Nobel Hoá học 2026
Một phản ứng hoá học ở Tokyo làm được điều chỉ sự sống làm được
- Đăng
- Video dài 21 phút
- 26 nguồn cho các con số
Ngày 7/10/2026, giải Nobel Hoá học được trao cho Henri Kagan và Kenso Soai vì đã ép được hoá học "chọn một tay": nhiều phân tử có hai dạng soi gương như bàn tay trái và phải, sự sống chỉ dùng một dạng, còn ống nghiệm luôn ra 50/50. Video đi từ hai lọ mùi bạc hà và thì là là cùng một phân tử, qua cái nhíp của Pasteur, bản thiết kế ba ô của Frank năm 1953, cái ghế dự bị của Kagan năm 1986, tới phản ứng tự tung đồng xu của Soai năm 2003, và nói đúng mức Hội đồng Nobel tự đặt: đây là bằng chứng chuyện ấy xảy ra được, chưa phải lời giải cho nguồn gốc sự sống.
Phim trả lời những câu hỏi nào
- Vì sao bạc hà và thì là là cùng một phân tử mà mùi khác nhau?
- Pasteur đã phát hiện phân tử có tay trái tay phải bằng cách nào?
- Độ lệch của một phản ứng là gì?
- Mô hình Frank 1953 về nguồn gốc tính thuận tay của sự sống nói gì?
- Hiệu ứng phi tuyến của Kagan là gì?
- Phản ứng Soai khuếch đại độ lệch bao nhiêu lần?
- Vì sao phản ứng Soai được gọi là tự tung đồng xu?
- Ai đoạt giải Nobel Hoá học 2026 và vì sao?
Lời của phim, theo chương
Đây là nguyên văn lời dẫn trong video. Chấm vàng có số sau một câu dẫn tới nguồn của con số trong câu đó.
1. Hai lọ, một phân tử Xem từ 0:00
Hai cái lọ. Lọ thứ nhất mở ra là mùi bạc hà, mát và ngọt, mùi của kẹo cao su.1 Lọ thứ hai mở ra là mùi hạt thì là khô, hơi cay, không phải mùi lá thì là trong nồi canh.1 Hai mùi không thể nhầm. Vậy mà hai lọ đựng cùng một chất, tên là carvone.1
Cùng công thức, cùng số nguyên tử, từng nguyên tử nối với nhau theo đúng cùng một cách. Chỉ khác một điều: hai phân tử ấy là ảnh gương của nhau, như bàn tay trái và bàn tay phải của bạn. Đặt lọ bạc hà trước gương, thứ bạn thấy trong gương chính là lọ thì là. Hai cái lọ ấy là điểm bắt đầu của câu chuyện.
Vì chúng mở ra một câu hỏi làm hoá học bối rối hơn một thế kỷ: mọi sinh vật trên Trái Đất, kể cả bạn, chỉ dùng một trong hai bàn tay của phân tử. Vì sao?2 Và con người có làm lại được điều đó không: ép một phản ứng chỉ sinh ra một tay? Ngày bảy tháng mười năm hai nghìn hai mươi sáu, hai nhà hoá học được trao giải Nobel vì đã làm được chuyện đó.2 Một người Pháp chín mươi lăm tuổi. Một người Nhật bảy mươi sáu tuổi.34
Trước họ, chỉ có sự sống làm được.5 Xem xong video này, bạn sẽ hiểu vì sao bạn thuận một tay ở cấp phân tử, và vì sao một ống nghiệm ở Tokyo năm hai nghìn lẻ ba là lần đầu con người làm lại được điều đó.6 Nhưng trước hết: tay của một phân tử là cái gì, và ai là người đầu tiên nhìn thấy nó?
2. Pasteur và cái nhíp (1848) Xem từ 1:39
Paris, năm một nghìn tám trăm bốn mươi tám.7 Louis Pasteur hai mươi lăm tuổi, chưa phải người hùng của vắc xin, chỉ là một nhà hoá học trẻ mê kính hiển vi.7 Ông đang xử lý một bài toán về axit tartaric, một trong những chất tạo vị chua trong rượu vang.7 Thời đó người ta đã có một cách đo lạ: chiếu ánh sáng qua một tấm kính lọc, kiểu như kính râm phân cực, rồi cho đi tiếp qua dung dịch.
Với một số chất, vệt sáng bị xoay đi một góc, như có ai vặn nhẹ cái kính. Axit tartaric lấy từ nho xoay nó sang phải.8 Nhưng có những mẻ axit tartaric, cùng công thức, cùng mọi tính chất, lại không xoay gì cả. Các đồng nghiệp của Pasteur không hiểu vì sao.7 Pasteur làm điều ông vẫn làm: soi. Dưới kính hiển vi, tinh thể của mẻ không xoay có hai kiểu. Chúng giống nhau, nhưng là ảnh gương của nhau, như hai bàn tay.
Ông lấy nhíp, nhặt từng hạt tinh thể, chia thành hai đống. Rồi hoà tan riêng.7 Đống thứ nhất xoay ánh sáng sang phải. Đống thứ hai xoay sang trái, đúng bằng góc ấy.7 Trộn hai dung dịch lại: ánh sáng đi thẳng, không xoay gì nữa. Hai bên triệt tiêu nhau.7 Đó là lần đầu con người thấy phân tử cũng có tay trái, tay phải.7
Chín năm sau, năm một nghìn tám trăm năm mươi bảy, Pasteur làm thêm một thí nghiệm.78 Ông cho vi sinh vật lên men hỗn hợp hai tay của axit tartaric. Chúng ăn sạch dạng có trong nho, dạng xoay phải. Dạng gương của nó, chúng không đụng tới.8 Sự sống, hoá ra, kén tay.
Nhưng đây mới là chỗ bối rối: hễ con người tự pha một phân tử có tay trong ống nghiệm, kết quả luôn luôn là hai tay bằng nhau. Vì sao? Và có cách nào làm lệch không?
3. Vì sao 50/50, và thước đo độ lệch Xem từ 3:41
Trước hết hãy xem sự sống kén tay tới mức nào. Các amino acid dựng nên protein của bạn đều thuận tay trái. Các phân tử đường trong chuỗi DNA của bạn đều thuận tay phải.9 Không phải đa số. Là tất cả. Một phản ứng hoá học thông thường không phân biệt trái với phải.
Mỗi lần tạo ra một phân tử, nó có thể ra tay trái hoặc tay phải với cơ hội y như nhau. Tạo ra một triệu phân tử, bạn sẽ có gần đúng năm trăm nghìn phân tử tay trái, năm trăm nghìn phân tử tay phải.9 Không phải do ai cẩu thả. Đó là luật đối xứng: khi không có gì thiên lệch, hai bên bằng nhau. Nên hễ con người tự pha trong ống nghiệm, kết quả luôn là năm mươi, năm mươi.9
Để nói chuyện cho gọn, cả video này sẽ dùng một cây thước, gọi là độ lệch. Lấy một trăm phân tử. Tay này nhiều hơn tay kia bao nhiêu phân tử, đó là độ lệch. Năm mươi, năm mươi: độ lệch bằng không. Toàn một tay: độ lệch một trăm. Sự sống đứng ở vạch một trăm. Ống nghiệm đứng ở vạch không.
Thế không có cách nào ép phản ứng nghiêng đi một chút à? Có. Nhưng phải tới đầu thế kỷ hai mươi mới có người làm được, và cái một chút ấy nhỏ tới mức gần như không thấy.10
4. Ba ô trống của Frank (1953) Xem từ 5:06
Người đó là Willy Marckwald, một nhà hoá học Đức.10 Ý tưởng của ông đơn giản: muốn sản phẩm có tay, hãy đặt cạnh phản ứng một chất giúp đã có tay sẵn. Chất giúp ấy gọi là xúc tác: nó đứng cạnh, đẩy phản ứng chạy nhanh hơn, mà bản thân nó không bị tiêu hao. Marckwald dùng một xúc tác thuận tay, và sản phẩm nghiêng theo tay của nó. Rất ít, nhưng nghiêng.10
Lần đầu con người kéo được cây thước độ lệch rời khỏi vạch không. Rồi câu chuyện đứng lại gần nửa thế kỷ.11 Năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, ở Bristol, nước Anh, một nhà vật lý lý thuyết tên là Charles Frank nghe một đồng nghiệp kể rằng các nhà hoá học vẫn không hiểu vì sao sự sống lại lệch tới vạch một trăm.11 Frank không phải nhà hoá học. Ông nhìn bài toán như nhìn một phương trình, và thấy nó không khó.11
Ông viết một bài báo ngắn, vẽ ra một bản thiết kế có ba điều kiện. Hãy hình dung nó như ba ô trống cần được đánh dấu.11 Ô thứ nhất: phải có một xúc tác thuận tay, làm phản ứng nghiêng. Cái này Marckwald đã làm. Đánh dấu ô một. Ô thứ hai: tay đang thắng phải được đẩy lên, còn tay kia phải bị giữ lại, như một cầu thủ bị giữ ngoài sân. Ô thứ ba, ô lạ nhất: sản phẩm của phản ứng phải chính là xúc tác của nó.
Nghĩa là mỗi phân tử sinh ra lại quay sang giúp sinh thêm phân tử giống mình, như một tờ giấy biết tự photocopy chính nó. Một phân tử thành hai, hai thành bốn, bốn thành tám. Số lượng không tăng từng bước, mà bùng lên. Người ta gọi đó là tự xúc tác. Frank chỉ ra: một phản ứng có đủ ba ô ấy sẽ tự chạy từ vạch không tới vạch một trăm, chỉ cần lúc đầu có một cú lệch, nhỏ bao nhiêu cũng được.11
Bài báo kết bằng một câu khô khan: một thí nghiệm trong phòng lab có lẽ không phải là không thể.11 Rồi suốt hơn ba mươi năm, bản thiết kế ấy thành một câu đố mà các giảng viên đem ra đố sinh viên: ba ô này, dựng bằng hoá chất thật thế nào?11 Ô hai, ô ba trống hoác. Và chẳng ai thấy cần vội. Cho tới khi một viên thuốc khiến cả thế giới cần.
5. Vì sao phải làm được: thalidomide Xem từ 7:31
Năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, Tây Đức bán ra một loại thuốc an thần mới, kê cả cho phụ nữ mang thai bị buồn nôn. Tên nó là thalidomide.12 Bốn năm sau, nó bị rút khỏi thị trường.12 Hơn mười nghìn trẻ em ở bốn mươi sáu nước đã sinh ra với dị tật nặng, thường là tay chân ngắn hoặc thiếu hẳn.12 Khi phân tích lại, các nhà khoa học nhận ra: phân tử thalidomide có hai tay. Một tay gây an thần. Tay kia làm hỏng phôi thai.13
Riêng với thuốc này còn một chi tiết cay đắng: trong cơ thể, hai tay đổi chỗ cho nhau, nên dù có bán riêng tay lành cũng không cứu được.13 Nhưng bài học chung thì đứng vững, và cả ngành dược học thuộc nó từ đó: hai tay của một phân tử có thể là hai thứ thuốc khác nhau. Một chữa. Một hại. Vậy phải làm thuốc một tay. Cuộc đua tìm xúc tác thuận tay, vốn đã chạy từ trước, từ đây càng nóng: ép phản ứng nghiêng thật mạnh, thật tinh khiết.14 Cuộc đua ấy về sau được hai giải Nobel, năm hai nghìn lẻ một và năm hai nghìn hai mươi mốt.14
Trong cuộc đua có một người Pháp làm việc ở Orsay, ngoại ô Paris: Henri Kagan, sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi.2 Cả ngành khi ấy chia sẻ một niềm tin nghe rất hợp lý: xúc tác nghiêng bao nhiêu thì sản phẩm nghiêng bấy nhiêu.14 Xúc tác thuần một tay cho sản phẩm tốt nhất. Xúc tác lẫn một nửa tay kia thì sản phẩm cũng tệ đi đúng một nửa. Vẽ ra, đó là một đường thẳng. Chưa ai kiểm tra niềm tin ấy. Vì chưa ai hỏi câu đơn giản này: cái xúc tác, thật ra, làm việc như thế nào?
6. Kagan nghĩ khác (1986) Xem từ 9:18
Xúc tác thời đó thường có hai phần: một nguyên tử kim loại, nơi phản ứng xảy ra, và một phân tử thuận tay bám vào kim loại, gọi là phối tử, quyết định sản phẩm nghiêng về tay nào.14 Mọi người vẽ nó như một cặp: một kim loại, một phối tử. Kagan hỏi: có chắc là một không? Nguyên tử kim loại thường bám được nhiều phân tử một lúc. Nếu nó bám hai phối tử thì sao?14
Khi xúc tác thuần một tay, mọi cặp đều là trái với trái. Không có gì lạ. Nhưng khi xúc tác bị lẫn, trong bình sẽ có ba kiểu cặp: trái với trái, phải với phải, và trái với phải.14 Thế cặp trái với phải thì sao? Chính cặp ấy là điểm mấu chốt. Kagan lập luận: nếu nó chạy chậm hơn hẳn hai cặp kia, thì chuyện gì xảy ra?14
Giả sử trong bình có nhiều phối tử tay trái, lẫn vài phối tử tay phải. Mỗi phối tử tay phải ghép với một phối tử tay trái thành một cặp trái với phải, và cặp ấy gần như không phản ứng. Vài phối tử tay phải ít ỏi nhanh chóng bị ghép hết, và giữ theo đúng bấy nhiêu phối tử tay trái. Nhưng tay trái đông hơn. Số dư ra vẫn làm xúc tác. Và phần xúc tác đang làm việc lúc này, toàn là tay trái. Kết quả đo được đúng như lập luận: sản phẩm nghiêng nhiều hơn xúc tác. Đường thẳng mà cả ngành tin bị bẻ cong, vồng lên.14
Năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, Kagan và nhóm của ông công bố ba phản ứng khác nhau, cả ba đều không đi theo đường thẳng; một trong ba vồng lên đúng như vậy.14 Ba năm sau, một nhóm ở Nhật do Ryoji Noyori dẫn đầu đo được mức cực đoan: xúc tác chỉ lệch mười lăm trên một trăm, sản phẩm lệch chín mươi tám.15 Lệch ít mà ra nhiều. Hoá học gọi là hiệu ứng phi tuyến. Và hãy nhìn lại ô thứ hai của Frank: tay thắng được đẩy lên, tay kia bị giữ lại.
Đó chính là nó. Ba mươi ba năm sau bài báo của Frank, ô thứ hai được đánh dấu.11 Nhưng ô thứ ba vẫn trống. Sản phẩm của Kagan vẫn là một thứ khác với xúc tác, nên chưa có sự tự xúc tác. Muốn ô ba, sản phẩm phải chính là xúc tác. Và ở Tokyo, một người đang nghiên cứu hiệu ứng của Kagan bỗng để ý một điều.
7. Soai mò mẫm: 1990, 1995, 2003 Xem từ 11:48
Kenso Soai sinh năm một nghìn chín trăm năm mươi ở Hiroshima, dạy ở Đại học Khoa học Tokyo.2 Ông nghiên cứu một phản ứng có hiệu ứng Kagan rất mạnh, và khi đặt công thức của xúc tác cạnh công thức của sản phẩm, ông thấy chúng giống nhau đến lạ.16 Nếu giống nhau đến thế, có thể nào làm cho sản phẩm chính là xúc tác không? Năm một nghìn chín trăm chín mươi, ông tìm được một phản ứng như vậy: sản phẩm sinh ra quay lại giúp sinh thêm chính nó. Ô thứ ba, lần đầu được đánh dấu.17
Nhưng có một vấn đề: độ lệch giảm dần. Xúc tác lệch tám mươi sáu trên một trăm, sản phẩm chỉ còn lệch ba mươi lăm.17 Tự xúc tác mà không giữ tay kia lại thì độ lệch mỗi lượt lại giảm: một trăm thành chín mươi, chín mươi thành tám mốt, rồi cứ thế tụt về vạch không.18 Ô ba có, ô hai mất. Frank đã nói trước: phải có cả ba.
Soai bắt đầu thử. Hội đồng Nobel gọi quãng này bằng ba chữ: thử và sai.16 Đổi phân tử này, đổi phân tử kia, năm này qua năm khác. Năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, tạp chí Nature đăng kết quả: với một phân tử có cái tên dài mà từ đây Minh sẽ gọi là phân tử của Soai, ông bắt đầu từ lệch hai, lấy sản phẩm làm xúc tác cho lượt sau, lượt này nối lượt kia, và sau bốn lượt độ lệch lên gần chín mươi.16 Lần đầu tiên, một phản ứng vừa tự tạo ra mình, vừa làm độ lệch tăng lên. Ba ô, ba dấu.
Nhưng gần chín mươi chưa phải một trăm của sự sống. Soai làm tiếp tám năm nữa.16 Năm hai nghìn lẻ ba, con số mới: xúc tác lệch chưa tới một phần mười nghìn.19 Nghĩa là trong hai triệu phân tử, chỉ dư đúng một phân tử tay này.19 Chạy ba lượt, lấy sản phẩm lượt trước làm xúc tác lượt sau: độ lệch vượt chín mươi chín phẩy năm, gần như tuyệt đối.19
Tỉ lệ giữa hai tay đã bị kéo lệch sáu trăm ba mươi nghìn lần.19 Hãy hình dung một khán phòng đang vỗ tay lộn xộn. Một người vỗ lệch nhịp. Người bên cạnh vô tình theo. Rồi cả phòng vỗ cùng một nhịp. Nhưng vẫn còn một câu hỏi. Soai vẫn phải cho sẵn vào phản ứng một cú lệch ban đầu, dù bé bằng một trong hai triệu.19 Bốn tỷ năm trước, ai cho sẵn cú lệch ấy cho sự sống? Và nếu không cho gì cả, chuyện gì sẽ xảy ra?20
8. Phản ứng tung đồng xu Xem từ 14:24
Cũng năm hai nghìn lẻ ba, Soai làm thí nghiệm mà sau này Hội đồng Nobel gọi là một trong những thí nghiệm ngoạn mục nhất của hoá học.69 Ông bỏ hết mọi thứ có tay. Chỉ cho hai hoá chất không tay gặp nhau, không cho sẵn chút lệch nào. Theo luật đối xứng, kết quả phải là năm mươi, năm mươi. Nhưng không. Mỗi lần chạy, phản ứng lại ngả về một tay, lúc ít lúc nhiều, có lần lệch tới hơn chín mươi.6
Ông lặp lại ba mươi bảy lần. Mười tám lần ngả tay này. Mười chín lần ngả tay kia.6 Giống như tung đồng xu: sấp ngửa ngang nhau. Nhưng ở đây, một khi phản ứng đã ngả về một tay, cả bình đi theo tay ấy. Chuyện gì xảy ra? Ở khoảnh khắc đầu tiên, trong hàng tỷ tỷ phân tử, do may rủi thuần tuý, có vài phân tử dư ra một bên.6 Với mọi phản ứng khác, cú lệch ấy biến mất ngay. Với phản ứng của Soai, nó được nhân lên, rồi nhân lên nữa, cho tới khi chiếm cả bình.
Pasteur từng tách hai tay có sẵn ra khỏi nhau. Còn ở đây, hai tay sinh ra từ một hỗn hợp không có tay nào, và một tay thắng. Lần đầu tiên kể từ khi có sự sống, tính thuận tay được tạo ra từ hỗn hợp không tay.9 Một nhóm ở Texas, độc lập với Soai, cũng công bố điều tương tự.21 Và vì phản ứng này nhạy đến thế, chỉ cần một cú đẩy rất nhẹ là sản phẩm ngả theo ý người đẩy.
Ánh sáng xoáy, một hạt tinh thể thạch anh, thậm chí một phân tử chỉ có tay vì một nguyên tử hydro của nó nặng thêm đúng một hạt: tất cả đều đẩy được.22 Chuyện đó dẫn thẳng tới câu hỏi về nguồn gốc sự sống. Năm mươi năm sau câu có lẽ không phải là không thể của Frank, bản thiết kế của ông đã chạy thật trong một ống nghiệm.11 Nhưng một phản ứng đẹp chưa phải là một lời giải. Phân tử của Soai là thứ nhân tạo, không phải amino acid, không phải đường.
Vậy nó đáng một giải Nobel vì điều gì? Hội đồng đã nói rõ, vào buổi sáng ngày bảy tháng mười.
9. Ngày 7/10/2026 Xem từ 16:35
Sáng ngày bảy tháng mười năm hai nghìn hai mươi sáu, tại Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển.2 Giải Nobel Hoá học được trao cho Henri Kagan và Kenso Soai, vì phát hiện hiệu ứng phi tuyến và tự xúc tác trong tổng hợp hữu cơ bất đối xứng.2 Nói gọn: Kagan cho thấy xúc tác lệch ít vẫn cho sản phẩm lệch nhiều, còn Soai tìm ra phản ứng mà sản phẩm tự xúc tác cho chính nó. Chủ tịch Hội đồng, Heiner Linke, nói: hai ông đã đưa ra lời giải cho một bí ẩn hoá học hơn một thế kỷ, là tính thuận tay có thể tự sinh ra như thế nào.2
Ông gọi những phản ứng ấy là ngoạn mục.2 Một thành viên khác, Peter Somfai, nói thẳng hơn: có lẽ đây là thí nghiệm ngầu nhất của hoá hữu cơ.23 Và ông nhắc tới thuốc: tay trái một tác dụng, tay phải một tác dụng khác, nên ta cần cách làm riêng từng tay. Công trình của hai người là công cụ cho việc đó.23 Mười hai triệu krona Thuỵ Điển, chia đều.2
Soai, bảy mươi sáu tuổi, nhận cú điện thoại khi đang đi mua sắm gần nhà ở Hiroshima. Ông nói với họp báo qua điện thoại: đây là ngày hào hứng nhất đời tôi.4 Còn Kagan, chín mươi lăm tuổi, thì sáng hôm ấy báo chí chưa gọi được ông. Con gái ông nói bà rất vui.3 Có một chi tiết nên biết: mỗi giải Nobel chỉ trao cho tối đa ba người.24 Năm hai nghìn lẻ một, giải Hoá học về xúc tác thuận tay, lĩnh vực Kagan mở đường, được trao cho ba người khác. Kagan đứng ngoài. Bộ trưởng Nghiên cứu của Pháp viết thư phản đối, nhưng luật là luật.24
Hai mươi lăm năm sau, họ gọi lại.24 Còn giờ, câu hỏi mở đầu: vì sao sự sống thuận một tay? Đã có lời giải chưa? Chính Hội đồng nói: chưa hẳn.
10. Chưa hẳn là lời giải: lần ngược về hai cái lọ Xem từ 18:33
Trong tài liệu khoa học kèm theo giải, Hội đồng viết rất thẳng. Phản ứng của Soai là bằng chứng rằng bản thiết kế của Frank chạy được. Nhưng nó dùng phân tử nhân tạo, chạy trong dung môi không phải nước, nên không phải lời giải cho sự ra đời của tính thuận tay trong sự sống.20 Chuyện gì đã xảy ra ba tỷ rưỡi tới bốn tỷ năm trước, họ viết, có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ có câu trả lời chắc chắn.20 Thứ con người có được là điều quan trọng không kém: biết rằng chuyện đó có thể xảy ra, và xảy ra bằng cách nào.
Hãy lần ngược lại con đường. Một bình hoá chất lệch trên chín mươi chín phẩy năm, gần như tuyệt đối,19 bắt đầu từ vài phân tử dư ra do may rủi, được khuếch đại theo nguyên lý mà Kagan mở ra, dù cơ chế chi tiết tới nay vẫn còn hai trường phái tranh luận,25
theo bản thiết kế ba ô mà một nhà vật lý vẽ năm một nghìn chín trăm năm mươi ba,11 để trả lời câu hỏi mở ra từ cái nhíp của Pasteur năm một nghìn tám trăm bốn mươi tám,7 về hai cái lọ: bạc hà và thì là. Và giờ bạn biết vì sao mũi bạn phân biệt được chúng.
Những thụ thể mùi trong mũi bạn là protein, dựng từ amino acid toàn một tay. Vì thế hốc bám trên mỗi thụ thể cũng chỉ thuận một tay.26 Phân tử bạc hà gắn vào hốc ấy thì khít. Phân tử thì là, ảnh gương của nó, gắn vào thì lỏng. Khít và lỏng khác nhau, nên hai mùi.1 Bạn ngửi được sự khác nhau ấy, vì thụ thể mùi của bạn, cũng như mọi protein của sinh vật trên Trái Đất, chỉ thuận một tay.
11. Thích, đăng ký, bình luận Xem từ 20:16
Nếu video này giúp bạn nhìn hai cái lọ khác đi, hãy bấm thích và đăng ký kênh nhé. Và nếu bạn thấy video này thú vị, hãy để lại một bình luận cho mình biết nhé.
Nguồn của các con số
26 nguồn, theo thứ tự lời phim dùng tới. Mỗi nguồn ghi kèm chỗ trong phim đã dùng nó.
- Royal Swedish Academy of Sciences, Press release 7 Oct 2026 Dùng ở 1:16
- Kitamura, Okada, Suga & Noyori (1989), J. Am. Chem. Soc. 111:4028–4036; Nobel Scientific background 2026, Fig. 4 Dùng ở 11:00
- Nobel Scientific background 2026, p. 10 (erosion of ee in autocatalysis without inhibition) Dùng ở 12:31
- Singleton & Vo (2002), J. Am. Chem. Soc. 124:10010–10011; Singleton & Vo (2003), Org. Lett. 5:4337–4339 Dùng ở 15:43
- Nobel Scientific background 2026, p. 12 (refs 76–78: circularly polarised light, minerals and crystals, isotope chirality) Dùng ở 15:55
- Nobel Scientific background 2026, pp. 14–16 (Athavale…Denmark 2020, Nat. Chem. 12:412; Trapp et al. 2020) Dùng ở 19:19
- Olfactory receptors are G-protein-coupled receptor proteins (Buck & Axel 1991, Cell 65:175); enantiomer discrimination of carvone: Wikipedia: Carvone Dùng ở 19:46
- khoa học
- Nobel 2026
- Nobel Hoá học
- Kagan
- Soai
- phản ứng Soai
- phân tử đối xứng gương
- tính thuận tay
- homochirality
- xúc tác
- tự xúc tác
- hiệu ứng phi tuyến
- Pasteur
- thalidomide
- nguồn gốc sự sống
- giải thích khoa học
- hoạt hình khoa học
- kiến thức
Xem tiếp
Nobel Y học 2026
Cách bật tắt não bộ bằng ánh sáng, học từ một con tảo trong vũng nước
, video dài 18 phút